Focus bracketing và focus stacking thường được xem là “lãnh địa” của nhiếp ảnh gia macro vì các ống macro nổi tiếng với độ sâu trường ảnh rất nông.
Kỹ thuật này ít được các nhiếp ảnh gia phong cảnh sử dụng hơn và đó là điều đáng tiếc, vì nó cho phép bạn thể hiện cảnh trước mặt theo những cách mà mắt thường không bao giờ có thể thấy được.
Đây là một kỹ thuật mà tác giả ngày càng sử dụng nhiều hơn trong các công việc chụp phong cảnh của mình.

Độ sâu trường ảnh tối đa
Khi bố cục nhiều ảnh phong cảnh của mình, mục tiêu của tôi là dẫn mắt người xem “đi vào” bức ảnh bằng cách đặt nhiều chủ thể trong khung hình sao cho tạo được tiền cảnh và hậu cảnh mạnh. Bức ảnh này là một ví dụ như vậy. Chủ thể chính là thác nước, trong khi những chiếc lá, khúc gỗ và dòng nước chảy xiết là các chủ thể phụ giúp bức ảnh thêm thú vị và – hy vọng – dẫn ánh mắt về chủ thể chính.
Việc có độ nét xuyên suốt toàn bộ khung hình là rất quan trọng, vì vậy tôi đặt máy ảnh cách tiền cảnh khoảng 1 mét, lấy nét ở khoảng 1/3 chiều sâu khung hình và sử dụng khẩu độ tương đối nhỏ. Cách này cho tôi độ sâu trường ảnh mong muốn. Nhưng nếu tôi muốn đưa máy lại gần tiền cảnh hơn nhiều, ví dụ chỉ cách những chiếc lá vài inch, thì sao? Liệu tôi vẫn có thể giữ được độ nét trên toàn bộ bức ảnh không? Không! Không thể chỉ với một tấm ảnh, kể cả khi chụp ở khẩu độ nhỏ nhất. Đó chính là lúc tôi sử dụng focus bracketing và focus stacking.


Bracketing vs Stacking
Khái niệm này rất đơn giản. Bạn chụp một loạt ảnh của cùng một cảnh ở các khoảng cách lấy nét khác nhau (bracketing), rồi trộn chúng lại với nhau để tạo ra độ sâu trường ảnh lớn hơn bất kỳ một tấm ảnh đơn lẻ nào (stacking).
Điều tuyệt vời là với các máy ảnh ngày nay, bạn có thể làm tất cả chỉ với một lần bấm nút chụp. Với các máy Olympus OM-D mà tôi sử dụng, tôi có thể chỉ thực hiện focus bracketing (chụp loạt ảnh) hoặc vừa bracketing vừa stacking ngay trong máy. Với chế độ bracketing bạn có thể chọn từ 3 đến 999 tấm, trong khi ở chế độ stacking trong máy bạn có thể chọn từ 3 đến 15 tấm.
Các mẫu máy ảnh Olympus sau đây có sẵn tính năng focus bracketing và focus stacking tích hợp.
Không phải mọi ống kính đều tương thích với chức năng focus bracketing/stacking; và trong số các ống kính tương thích thì cũng không phải tất cả đều hỗ trợ focus stacking trên những mẫu máy đời cũ. Đây cũng là danh sách mới nhất các ống kính hỗ trợ stacking.
Bảng máy ảnh & ống kính hỗ trợ stacking
| Máy ảnh (CAMERAS) | Ống kính M.ZUIKO DIGITAL (LENSES) |
|---|---|
| E-M1X | 7-14mm F2.8 PRO |
| E-M1 Mark II | 8-25mm F4.0 PRO |
| E-M1 Mark III | 12-40mm F2.8 PRO |
| E-M1 (firmware v4.0 trở lên) | 12-45mm F4.0 PRO |
| E-M5 Mark III | 12-100mm F4.0 IS PRO |
| E-M5 Mark II (firmware v4.0 trở lên) | 40-150mm F2.8 PRO |
| Tough TG-5 & TG-6 (chỉ stacking trong máy) | 300mm F4.0 IS PRO |
| 8mm F1.8 Fisheye PRO | |
| 30mm F3.5 Macro | |
| 60mm F2.8 Macro |
-
Khuyến nghị dùng chân máy, tuy nhiên khá nhiều bức ảnh trong bài này được chụp cầm tay, và với một số ảnh khác thì tác giả đặt máy ảnh xuống đất.
Quy trình
Các bước sau sẽ thiết lập máy ảnh để chụp focus stacking.
-
Trong Menu, chọn mục Camera2.
-
Chọn Bracketing. Bạn có thể bracketing nhiều thiết lập khác nhau (phơi sáng tự động, cân bằng trắng, flash, ISO, Art Filters và Focus Bracketing). Chọn Focus BKT.
-
Bật Focus Stacking lên On.
-
Chọn Set number of shots (thiết lập số lượng ảnh chụp).
-
Chọn Set Focus Differential. Chọn giá trị chênh lệch nét từ 1 đến 10, giá trị này quyết định mức độ thay đổi vị trí nét giữa các khung hình.
-
Nhấn OK nhiều lần để xác nhận và kích hoạt các thiết lập. Bạn sẽ thấy chữ BKT ở phía trên màn hình LCD, cho biết Focus Bracketing đã được bật.
Tính năng focus stacking sẽ chụp số lượng ảnh mà bạn đã chọn với mức chênh lệch nét (focus differential) đã thiết lập, sau đó gộp chúng lại thành một file JPEG duy nhất với độ phân giải đầy đủ.
Các ảnh riêng lẻ vẫn được lưu dưới dạng file RAW (nếu bạn đang chụp RAW). Điều này cho phép bạn stack lại chúng sau đó nếu muốn, bằng các phần mềm bên thứ ba như Photoshop hoặc Helicon Focus.
Việc đạt được kết quả tốt sẽ dễ dàng hơn đáng kể khi chụp phong cảnh so với chụp macro, vì với ống kính phong cảnh bạn thường có độ sâu trường ảnh lớn hơn.
Bạn cũng sẽ thấy một khung viền mảnh xuất hiện khi bật chế độ stacking; mọi thứ nằm ngoài đường viền này sẽ bị cắt bỏ trong bức ảnh stack cuối cùng.
Điều này là cần thiết vì khi máy ảnh điều chỉnh đến các điểm lấy nét khác nhau thì góc nhìn cũng thay đổi nhẹ.
Hãy dùng đường viền này để hỗ trợ bạn trong việc bố cục khung hình.
Đường viền hướng dẫn này sẽ không xuất hiện nếu bạn chỉ bật bracketing, vì khi đó máy không thực hiện stacking trong thân máy.

Bối cảnh điển hình
Mặc dù bối cảnh có thể khác nhau tùy địa điểm, cách sử dụng focus bracketing/stacking của tôi thường khá nhất quán. Trong phần này là cách tôi thiết lập và vận hành tính năng này.
Tình huống
Tôi chọn dùng focus bracketing/stacking khi tiền cảnh không có những điểm nhấn lớn, mà tôi muốn làm nổi bật các chi tiết nhỏ ở tiền cảnh như tinh thể băng, vỏ sò, đá nhỏ, lá cây, hoa và tương tự.
Đặt máy
Hãy tiến lại gần! Ý là rất gần. Trong nhiều bức ảnh trong bài viết này, thấu kính trước chỉ cách chủ thể tiền cảnh khoảng 15 cm (6 inch). Nhiều ảnh cũng được chụp theo chiều dọc, với máy nghiêng xuống khoảng 45 độ. Cách này giúp tôi có trường nhìn bao trọn tiền cảnh, đường chân trời và bầu trời. Như đã đề cập, tripod có thể hữu ích, nhưng thành thật mà nói, chống rung trên dòng OMD tốt đến mức tôi thường… lười mang tripod.
Thiết lập
Bất kể tôi đang dùng thân máy OMD nào, ống kính “tủ” cho kiểu chụp này luôn là 7–14mm f/2.8 PRO. Ống có khoảng cách lấy nét gần nhất 20 cm và góc nhìn lên đến 115°.
-
Chế độ: Aperture Priority (A) – gần như toàn bộ ảnh phong cảnh của tôi đều chụp ở A
-
ISO: 200; tùy điều kiện sáng tôi có thể tăng ISO, nhưng không bao giờ dùng Auto ISO
-
Khẩu độ: thường nằm trong khoảng f/5.6 đến f/7.1
-
Điểm lấy nét: single point, đặt lên chi tiết gần nhất ở tiền cảnh
-
Số ảnh bracket: 8 – thường là đủ, bạn hoàn toàn có thể dùng ít hơn
-
Focus Differential: 3 – đây là “điểm ngọt” nên tôi hầu như không bao giờ đổi. FD càng cao thì nhóm thấu kính dịch càng nhiều giữa các khung hình. Nhiều người hỏi liệu mỗi mức FD có thể quy đổi ra độ sâu trường ảnh cụ thể không. Câu trả lời ngắn gọn là: không. Có quá nhiều biến số ảnh hưởng tới DOF – ống kính, tiêu cự, khoảng cách tới chủ thể và khẩu độ. Thay đổi bất kỳ yếu tố nào thì DOF cũng thay đổi theo. Tôi thấy FD=3 hoạt động rất tốt nên cứ để vậy.
Vậy nó hoạt động như thế nào?
Khi đã kích hoạt, máy sẽ chụp đúng số ảnh bạn cài đặt (trong trường hợp của tôi là 8). Tấm đầu tiên được chụp tại điểm lấy nét bạn chọn. Hai tấm tiếp theo sẽ lấy nét gần hơn điểm đó. Những tấm còn lại sẽ dời nét sâu dần vào trong khung hình, tùy theo giá trị focus differential mà bạn chọn. Có thể bạn sẽ hỏi: tại sao lại lấy nét vào điểm gần nhất trong khi máy sẽ tự động lấy nét gần hơn cho hai tấm kế tiếp? Có hai lý do:
-
Tôi muốn đảm bảo điểm đã chọn chắc chắn nằm trong vùng nét, và cách này đảm bảo điều đó.
-
Các điểm AF không vươn tới sát mép khung ngắm, nên có thể vẫn có chi tiết trong cảnh nằm gần ống kính hơn nữa mà bạn không thể đặt điểm AF vào. Tình huống minh họa dưới đây sẽ giúp làm rõ hơn điều này.

Tôi bắt gặp khung cảnh ven bờ này với những “hòn đá băng” rất thú vị bị sóng đánh dạt lên bãi biển và chụp tấm đầu tiên từ tầm mắt – không cần dùng focus bracketing.
Sau đó tôi chuyển sang focus stacking, khom người xuống, tiến lại thật gần và lấy nét vào tảng băng gần ống kính nhất. Vì các điểm lấy nét khả dụng không kéo dài tới sát mép khung hình, việc hai tấm hình đầu trong chuỗi được lấy nét phía trước điểm bạn chọn sẽ đảm bảo cạnh gần nhất cũng nằm trong vùng nét.


Công khai một chút
Tôi rất thích tính năng này và dùng nó thường xuyên đến mức đã lưu sẵn các thiết lập stacking vào một trong các chế độ tùy chỉnh của máy ảnh. Tuy nhiên, thực tế là tôi hiếm khi sử dụng trực tiếp bức ảnh stack cuối cùng do máy tạo ra. Tôi dùng nó như ảnh tham chiếu, còn nếu muốn kiểm soát tối đa, tôi sẽ xử lý riêng từng file RAW rồi mới stack chúng trong Photoshop. Một điều cần lưu ý là trong bộ ảnh bracketing sẽ có một số tấm hoàn toàn mất nét (hãy nhớ rằng tính năng này ban đầu được thiết kế chủ yếu cho chụp macro). Nhờ vậy tôi có thể loại bỏ những tấm không cần thiết và chỉ stack những ảnh thực sự dùng đến. Trong ví dụ phía trên, tôi chỉ dùng 4 trong tổng số 8 tấm ảnh. Cách này cho tôi độ sâu trường ảnh cần thiết, từ vài inch cho tới vô cực.
Stacking trong hậu kỳ
Tôi sử dụng Lightroom và Photoshop cho hầu hết công việc chỉnh sửa. Dưới đây là các bước tôi dùng để tạo một stack của riêng mình:
-
Xác định những tấm tốt nhất trong loạt ảnh. Sau khi nhập ảnh vào Lightroom, tôi duyệt toàn bộ bộ ảnh bracketing và chọn những tấm mà ít nhất có một phần của khung cảnh nằm trong vùng nét.
-
Thực hiện chỉnh sửa ban đầu cho một tấm ảnh, rồi đồng bộ (sync) các thiết lập đó sang các ảnh còn lại.
-
Chọn nhóm ảnh này và dùng lệnh “Open as Layers in Photoshop” (Mở dưới dạng các layer trong Photoshop).

Những suy nghĩ và hình ảnh cuối cùng
Focus bracketing và stacking đã trở thành một trong những kỹ thuật bố cục yêu thích của tôi. Nó khiến tôi quan sát kỹ hơn khi ở ngoài hiện trường, vì tôi luôn tìm kiếm những chi tiết nhỏ trong khung cảnh có thể trở thành yếu tố tiền cảnh chủ đạo. Kỹ thuật này mất thêm chút thời gian để thiết lập, và không phải lúc nào cũng phù hợp với mọi bối cảnh, nhưng khi “hợp cảnh” thì kết quả có thể rất ấn tượng.









Tổng hợp bài viết của @Peter Baumgarten


